Thứ Ba, 27 tháng 4, 2021

Từ 1/7, những người thuê trọ cần lưu ý những gì?

Hình minh họa

Luật Cư trú 2020 chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7 tới. Nhiều quy định mới trong Luật Cư trú 2020 được một bộ phận không nhỏ người thuê nhà (thuê trọ), ở nhờ tại các thành phố lớn quan tâm vì liên quan đến vấn đề tạm trú, thường trú ở nơi thuê.

Đăng ký tạm trú ngay trong vòng 30 ngày

Điều 27 Luật Cư trú 2020 quy định, công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường trú để lao động, học tập hoặc vì mục đích khác từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú.

Hiện hành, tại khoản 2 Điều 30 Luật Cư trú 2006 quy định: Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn.

Như vậy, quy định mới tại khoản 1 Điều 27 Luật Cư trú 2020 sẽ thoáng hơn so với hiện hành. Nghĩa là đến và sinh sống từ 30 ngày trở lên mới phải đăng ký tạm trú.

Thời hạn tạm trú tối đa là 2 năm và có thể tiếp tục gia hạn nhiều lần. Hiện hành, tại khoản 1 Điều 17 Thông tư 35/2014/TT-BCA thì thời hạn tạm trú theo đề nghị của công dân nhưng tối đa không quá 24 tháng.

Công dân không được đăng ký tạm trú mới tại chỗ ở quy định tại Điều 23 Luật Cư trú 2020.

Ngoài ra, hiện nay theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP, nếu không đăng ký tạm trú vòng 30 ngày kể từ ngày ký hợp đồng thuê, người thuê nhà sẽ bị phạt từ 100.000 đến 200.000 đồng (điểm a khoản 1 Điều 8).

Theo dự thảo Thông tư quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú đang được bộ Công an đưa ra lấy ý kiến, hình thức kiểm tra cư trú được tiến hành định kỳ, đột xuất, hoặc do yêu cầu phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự.

Theo đó, đối tượng kiểm tra cư trú là công dân, hộ gia đình, cơ sở cho thuê lưu trú, cơ quan đăng ký, quản lý cư trú các cấp; cơ quan, tổ chức có liên quan đến quản lý cư trú.

Nội dung kiểm tra cư trú bao gồm kiểm tra việc triển khai và tổ chức thực hiện các nội dung đăng ký, quản lý cư trú; quyền và trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức; các nội dung khác theo pháp luật cư trú.

Cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân, công an xã được giao quản lý cư trú tại địa bàn có quyền kiểm tra trực tiếp hoặc phối hợp kiểm tra việc chấp hành pháp luật về cư trú đối với công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức thuộc địa bàn quản lý. Khi kiểm tra được quyền huy động lực lượng quần chúng làm công tác bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức cùng tham gia.

Việc kiểm tra cư trú của công an cấp trên tại địa bàn dân cư phải có cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân, công an xã được giao quản lý cư trú tại địa bàn chứng kiến.

Nhà thuê có thể đăng ký thường trú

Luật Cư trú 2020 cũng tạo cơ hội cho người thuê nhà có "hộ khẩu thành phố" bằng việc đăng ký thường trú tại nhà thuê.

Hiện nay, công dân được đăng ký thường trú vào nhà thuê ở thành phố trực thuộc trung ương nếu được chủ nhà đồng ý; đã tạm trú liên tục từ 1 đến 2 năm trở lên; bảo đảm diện tích nhà thuê theo quy định của địa phương (khoản 1 Điều 20 Luật Cư trú 2006, sửa đổi năm 2013).

Từ ngày 1/7, công dân được đăng ký thường trú vào nhà thuê nếu được chủ nhà đồng ý. Bảo đảm diện tích nhà thuê theo quy định của địa phương nhưng tối thiểu 8m2 sàn/người.

Người thuê nhà ở các thành phố lớn, nếu có nhu cầu đăng ký thường trú ở đây thì cần phải lưu ý các điều kiện mới nêu trên.

8 trường hợp bị xóa đăng ký tạm trú

Khoản 1 Điều 27 Luật Cư trú 2020 yêu cầu công dân đến sinh sống tại chỗ ở hợp pháp ngoài phạm vi đơn vị hành chính cấp xã nơi đã đăng ký thường từ 30 ngày trở lên thì phải thực hiện đăng ký tạm trú.

Điều 29 luật này cũng quy định người thuê, ở nhờ đã đăng ký tạm trú vẫn có thể bị xóa đăng ký khi thuộc một trong tám trường hợp sau:

- Chết, có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố đã chết.

- Đã có quyết định hủy bỏ đăng ký tạm trú quy định.

- Vắng mặt liên tục tại nơi tạm trú từ sáu tháng trở lên mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác.

- Đã được cơ quan có thẩm quyền cho thôi quốc tịch Việt Nam, tước quốc tịch Việt Nam, hủy bỏ quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam.

- Đã được đăng ký thường trú tại chính nơi tạm trú.

- Người đã đăng ký tạm trú tại chỗ ở do thuê, mượn, ở nhờ nhưng đã chấm dứt việc thuê, mượn, ở nhờ mà không đăng ký tạm trú tại chỗ ở khác.

- Người đã đăng ký tạm trú tại chỗ ở hợp pháp nhưng sau đó quyền sở hữu chỗ ở đó đã chuyển cho người khác, trừ trường hợp được chủ sở hữu mới đồng ý cho tiếp tục sinh sống tại chỗ ở đó.

- Người đăng ký tạm trú tại chỗ ở đã bị phá dỡ, tịch thu theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tại phương tiện đã bị xóa đăng ký phương tiện theo quy định của pháp luật.

Hiện, Luật Cư trú 2006 sửa đổi, bổ sung 2013 không quy định về xóa đăng ký tạm trú.

Theo Điều 38 Luật Cư trú 2020, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành (1/7/2021), sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã được cấp vẫn được sử dụng và có giá trị như giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú theo quy định của Luật này cho đến hết ngày 31/12/2022.

Khi công dân thực hiện các thủ tục đăng ký cư trú dẫn đến thay đổi thông tin trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú thì cơ quan đăng ký cư trú có trách nhiệm thu hồi sổ hộ khẩu, sổ tạm trú đã cấp; thực hiện điều chỉnh, cập nhật thông tin trong Cơ sở dữ liệu về cư trú theo quy định của luật này và không cấp mới, cấp lại sổ hộ khẩu, sổ tạm trú.

Như vậy, với các trường hợp người dân đăng ký cư trú dẫn đến thay đổi thông tin trong sổ hộ khẩu, sổ tạm trú sẽ bị thu hồi sổ.

Luật cũng yêu cầu Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan khác có liên quan rà soát các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành có nội dung quy định liên quan đến sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc có yêu cầu xuất trình giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với quy định của Luật này, hạn chế việc sử dụng thông tin về nơi cư trú là điều kiện để thực hiện các thủ tục hành chính.

Cự Giải (T/h)