Thứ Năm, 15 tháng 4, 2021

Pháp luật các triều đại Việt Nam và các nước (Kỳ 13)

Kỳ 13

+ Chế định hợp đồng và nghĩa vụ hợp đồng: Luật quy định phải có hai điều kiện để hợp đồng có hiệu lực. Thứ nhất, hợp đồng phải có sự thỏa thuận của hai bên, không được lừa dối, không dùng vũ lực đe dọa, hai là hợp đồng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trong khi áp dụng để xét xử các vụ án, các luật gia La Mã đã phân hợp đồng thành hai loại: loại hợp đồng thực tại tức là nghĩa vụ hợp đồng phát sinh từ thời điểm trao hiện vật. Trong loại hợp đồng này lại phân chia thành hợp đồng bảo quản và hợp đồng vay mượn. Với hợp đồng bảo quản, thời điểm phát sinh trách nhiệm của người bảo quản chỉ từ khi nhận được vật trở đi. Còn hợp đồng cho vay là người cho vay chỉ phải trả lại vật tương tự, hợp đồng cho mượn là trả lại vật đã mượn.

Loại thứ hai là hợp đồng thỏa thuận, loại hợp đồng này phát sinh trách nhiệm bắt đầu tư khi ký hợp đồng, không chờ đến khi trao hiện vật. Loại hợp đồng này bao gồm nhiều hình thức quan hệ pháp lý như mua bán, thuê mướn sức lao động, thuê súc vật, nhà ở, lĩnh canh ruộng đất. Loại hợp đồng này tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa phát triển.

Pháp luật cũng đã đề ra các biện pháp để bảo đảm hợp đồng được thực hiện là các hình thức cầm cố. Người mắc nợ không trả được nợ thì lấy vật cầm cố đem bán, số tiền bán được nhiều hơn số tiền nợ thì con nợ được nhận lại số dư đó. Tất cả các đồ vật đều được coi là vật cầm cố. Một biện pháp khác bảo đảm cho hợp đồng thực hiện là sự bảo lãnh của người trung gian.

Pháp luật La Mã cũng đề ra những điều kiện để đình chỉ hợp đồng. Giữ nguyên hay đình chỉ hợp đồng là do sự đồng ý của hai bên ký kết hợp đồng, hoặc là hai bên thỏa thuận chuyển khoản nợ cũ sang một nghĩa vụ mới, hoặc người chủ nợ từ chối quyền đòi hỏi của mình, hoặc là hết thời gian để đưa đơn kiện (thời hiệu là 1 năm) hoặc là người mắc nợ gặp thiên tai địch họa không thể thực hiện được nghĩa vụ hợp đồng. Tất cả các điều kiện trên có thể hủy bỏ hợp đồng.

- Chế định hôn nhân gia đình

Theo quy định của luật La Mã, chế độ hôn nhân một vợ một chồng do tự nguyện kết hôn của cả hai bên. Người chồng phải chi phí sinh hoạt trong gia đình khi còn chung sống. Người chồng có quyền định đoạt của hồi môn của vợ. Nếu người vợ ly hôn chính đáng, được tòa án thừa nhận thì người vợ có quyền nhận lại của hồi môn. So với thời kỳ đầu của nền cộng hòa thì pháp luật thời kỳ này đã hạn chế bớt quyền lực của người cha. Người cha không được bán con của mình làm nô lệ, giết trẻ con là phạm pháp.

- Chế định về kế thừa: So với thời kỳ đầu cộng hòa thì chi tiết hơn và nhiều thay đổi. Luật cũng quy định hai hình thức kế thừa: kế thừa theo luật pháp và kế thừa theo di chúc. Luật quy định những người được kế thừa theo quan hệ huyết thống sáu đời của người để lại tài sản.

Các chế định về dân sự đã thể hiện đậm nét những nguyên tắc bình đẳng.

- Những chế định về hình sự: Nếu như những chế định dân sự mang tính chất tiến bộ thì những chế định hình sự của luật La Mã mang tính chất bảo thủ. Phần lớn các chế định hình sự nhằm điều chỉnh các quan hệ chính trị. Các hình phạt mang tính chất tàn bạo cực hình và ô nhục. Cách xét xử mang tính độc đoán, tùy tiện chủ quan của thẩm phán, hình phạt lại căn cứ vào địa vị xã hội và giai cấp mà áp dụng khác nhau. Ví dụ trong việc thi hành án tử hình, quý tộc và binh lính bị chém bằng gươm, dân tự do bị thiêu hoặc cho ngựa xé, còn nô lệ bị giết chết từ từ rất khủng khiếp. Trong thời kỳ độc tài Xila (năm 82 trước Công nguyên), những người bị ghi danh sách "kẻ thù của nhân dân" thì bất cứ người dân La Mã nào của họ bị sung công, một phần được chia cho người tố giác. Chỉ cần một việc nhỏ làm trái ý kẻ độc tài cũng bị tội và bị xử phạt.

- Những chế định về tố tụng: So với thời kỳ đầu của nền cộng hòa, tổ chức tòa án và tố tụng tư pháp có nhiều thay đổi. Khi chế độ cộng hòa khủng hoảng, suy yếu. Đại hội Xen-tu-ri (Đại hội nhân dân) bị gạt ra khỏi việc xét xử những vụ án hình sự cao cấp nhất. Việc giải quyết xét xử những vụ án này thuộc quyền của Hội đồng tòa án đặc biệt gồm từ 30 đến 40 thẩm phán. Tùy theo từng vụ án mà số lượng thành viên của Hội đồng thẩm phán nhiều hay ít bằng cách bốc thăm lựa chọn. Hội đồng thẩm phán phải bỏ phiếu để quyết định các vấn đề quan trọng của vụ án. Các quan chức hành chính cũng được trao quyền xét xử các vụ án hình sự và dân sự. Thẩm phán của tòa án vừa tiến hành điều tra xét hỏi vừa kết tội và tuyên bố hình phạt. Trong công việc điều tra xét hỏi, biện pháp chính để tiến hành là tra tấn, đánh đập bị can. Tòa án các chế định tố tụng là công cụ hữu ích của nhà nước chủ nô La Mã sử dụng để thống trị đàn áp nhân dân.

3. Nhận xét chung về luật La Mã

Các Mác đã đánh giá cao về nền pháp lý La Mã, nhất là luật pháp vào thời kỳ cuối của nền cộng hòa. Các Mác cho rằng: "Những người La Mã chính là những người đầu tiên khởi xướng ra luật tư hữu, luật trừu tượng, luật tư pháp đã đạt đến trình độ hoàn thiện cổ điển".

Mức độ hoàn thiện của luật La Mã thể hiện ở chỗ luật này bảo vệ tất cả các mặt của chế độ tư hữu, phạm vi điều chỉnh của luật sâu rộng, điều chỉnh hầu hết các quan hệ xã hội đương thời. Luật bao gồm các quy phạm liên quan đến tổ chức quyền lực và hoạt động của nhà nước (công pháp) và những quy phạm liên quan đến cá nhân như sở hữu, hôn nhân và gia đình, hợp đồng, thừa kế (tư pháp). Các chế định điều chỉnh các quan hệ đa dạng phức tạp đó đã tạo điều kiện cho kinh tế hàng hóa, kinh tế công, thương nghiệp phát triển. Kỹ thuật lập pháp của luật cũng biểu hiện mặt hoàn thiện của luật La Mã. Các chế định, các quy phạm pháp luật đã soạn thảo tỉ mỉ, những quy tắc xử sự cần thiết được chi tiết hóa, lời văn rõ ràng, chuẩn mực, trong sáng. Các nhà lập pháp La Mã đã chú trọng nêu các định nghĩa và các khái niệm pháp lý, đưa ra đầy đủ các yếu tố của quy phạm pháp luật bao gồm phần giả định, phần quy định hành vi cụ thể và phần chế tài.

Nguyên nhân làm cho luật La Mã phát triển hoàn thiện là do luật dựa trên nền tảng của kinh tế hàng hóa phát triển mạnh mẽ, nhất là vào thời hậu kỳ của nền cộng hòa. Trong sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế hàng hóa, quan hệ xã hội trở nên đa dạng, yêu cầu khách quan đó đã làm cho luật cũng phải phát triển toàn diện để điều chỉnh, kỹ thuật làm luật cũng đòi hỏi phải tỉ mỉ, chính xác và khái quát hệ thống hóa cao độ. Như vậy, ở La Mã kinh tế hàng hóa thúc đẩy luật pháp phát triển hoàn thiện và ngược lại pháp luật hoàn thiện cũng là phương tiện để thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển.

Một nguyên nhân quan trọng khác là do công cuộc chinh phục, vào thế kỷ 2 trước Công nguyên, La Mã đã thành một đế quốc rộng lớn bao gồm nhiều quốc gia, nhiều dân tộc ở phương Tây cũng như phương Đông. Điều này tạo cơ hội cho các luật gia La Mã tiếp thu các thành tựu luật pháp của nhiều quốc gia, tạo nên tính đa dạng, phong phú của pháp luật La Mã. Ngược lại, việc cai trị một đế quốc rộng lớn nhiều dân tộc bị khuất phục cũng đòi hỏi nhà nước La Mã có luật pháp hoàn bị, phong phú chặt chẽ để làm công cụ có hiệu lực trong công việc cai trị, bóc lột, đàn áp.

Nguyên nhân thứ ba cho luật La Mã hoàn thiện còn do tài năng, học vấn uyên bác của các nhà làm luật. Cơ sở kinh tế hàng hóa làm điều kiện vật chất của giới trí thức đầy đủ, tạo điều kiện cho họ tập trung say sưa vào công việc sáng tạo chuyên môn. Việc mở rộng đế quốc cũng tạo cho các luật gia La Mã học tập kế thừa thành tựu luật pháp quốc tế. Tài năng của luật gia La Mã đã góp phần làm luật La Mã hoàn thiện và sâu sắc.

Tính hoàn thiện đã làm cho luật pháp thành một điểm sáng chói trong nền văn minh La Mã nói chung. Nó có cội nguồn của luật pháp châu Âu thời trung đại và cận đại. Trong thời kỳ chế độ phong kiến, nhiều nước phong kiến phương Tây đã lấy những chế định của luật La Mã để xây dựng nên luật của vương quốc họ. Kế đến thời cận đại, các nhà làm luật cũng đã kế thừa luật La Mã cổ đại để xây dựng luật tư sản, đặc biệt trong hệ thống pháp luật của các nước châu Âu lục địa. Ví dụ như bộ luật của Pháp do hoàng đế Na-pô-lê-ông I xây dựng năm 1804, gọi là "dân luật Na-pô-lê-ông" được coi là chịu ảnh hưởng sâu đậm của luật La Mã v.v...

CHƯƠNG V. PHÁP LUẬT PHONG KIẾN TÂY ÂU

I. Khái quát chế độ phong kiến Tây Âu

1. Thời kỳ hình thành chế độ phong kiến

Người Giéc-manh là một trong những bộ tộc lớn thuộc chủng tộc A-ri-an đã đến sinh sống ở biên giới phía bắc và đông bắc của đế quốc La Mã từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên. Vào thể kỷ thứ 4 sau Công nguyên, khi đế quốc La Mã đang trên đà sụp đổ, người Giéc-manh đã thiên di vào bên trong của đế quốc. Những cuộc thiên di lớn này diễn ra suốt thế kỷ thứ 4 và thứ 5. Người Giéc-manh đã chiếm đất đai của người La Mã lập nên những vương quốc phong kiến: như các vương quốc Vi-si-gốt (Visigoth) Nam xứ Gô-lơ và Tây Ban Nha, vương quốc Văng-đan (Vandal) ở Bắc Phi, các đảo phía tây Địa Trung Hải, vương quốc Buốc-gông (Bourgogne) ở đảo Britân (Britain). Năm 476, Odoacer viên tướng chỉ huy quân cận vệ của hoàng đế Tây La Mã đã nổi loạn, phế truất hoàng đế Tây La mã cuối cùng. Sự kiện này đánh dấu sự diệt vong của đế quốc La Mã.

Trong số các vương quốc đó, người Phơ-răng(1) do thủ lĩnh Clô-vít cầm đầu và thiết lập nên vương quốc Phơ-răng hùng mạnh. Họ đã chiếm đất đai của người La Mã để thiết lập nên những công xã Mác-cơ (công xã nông thôn), lấy nông nghiệp làm cơ sở kinh tế. Riêng Clô-vít đã chiếm đoạt điền trang rộng lớn của chủ nô La Mã, đem ban tặng cho quý tộc thị tộc, tướng lĩnh và những người thân cận của mình. Bọn quý tộc La Mã còn lại cũng thừa nhận quyền lực của Clô-vít và chúng được giữ lại những tài sản của mình. Bọn chúng dùng những ruộng đất đó lập thành những lãnh địa, chúng trở thành những lãnh chúa phát canh ruộng đất cho nông nô cày cấy và thu tô. Ngoài nộp tô hiện vật, người nông nô còn phải nộp nhiều thứ thuế, còn phải làm nghĩa vụ đi lính, đi lao dịch, xây thành, đào chiến lũy v.v...

Như vậy, một chế độ mới được kiến lập nên do sự phân phong đất đai thì được gọi là chế độ phong kiến. Đặc trưng kinh tế của chế độ này là lấy nông nghiệp ruộng đất làm nền tảng, thủ công nghiệp chỉ là nghề phụ phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Sự bóc lột của lãnh chúa phong kiến đối với nông nô (nông dân) là bóc lột tô hiện vật, tô lao dịch và các loại thuế. Cơ cấu giai cấp của xã hội phong kiến bao gồm hai giai cấp cơ bản: giai cấp địa chủ phong kiến là giai cấp thống trị, áp bức, bóc lột, giai cấp bị áp bức bóc lột là nông dân - nông nô. Về sau này, các lãnh chúa còn được phong tước vị: thứ nhất là công tước, thứ hai là hầu tước, thứ ba là bá tước, thứ tư là tử tước và cuối cùng là nam tước. Khi được phong tước vị, bọn lãnh chúa trở thành quý tộc phong kiến. Ruộng đất và tước vị của quý tộc phong kiến được thế lập, tức là cha truyền con nối. Như vậy, trong xã hội phong kiến, ngoài phân chia thành giai cấp, còn phân chia xã hội thành đẳng cấp. Quý tộc phong kiến, sau này thêm quý tộc tăng lữ là một đẳng cấp tự cho mình là cao quý có nhiều đặc quyền đặc lợi. Ví dụ như lãnh chúa Pháp ghi trên giấy tờ có tới 200 đặc quyền, đặc lợi, còn những điều không ghi trên giấy tờ thì không sao kể xiết. Chúng tự tách ra khỏi quần chúng thành một đẳng cấp trên riêng biệt. Cho nên trong xã hội phong kiến khái niệm nhân dân không bao hàm đẳng cấp quý tộc phong kiến

(Còn nữa)
CVL

--------------------------

(1) Phơ-răng: Nghĩa là dũng cảm, tự do

TS Cao Văn Liên