Thứ Bảy, 27 tháng 3, 2021

2 cấp tòa tính lãi chênh nhau 'một trời một vực'

TAND tỉnh Phú Yên vừa xử phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa nguyên đơn là vợ chồng ông ĐMT, bà VTHP (trú TX Sông Cầu) và bị đơn là bà HPTTK (trú TP Tuy Hòa).

Theo hồ sơ, ngày 10-3-2015, vợ chồng ông T., bà P. cho bà K. vay 395 triệu đồng. Sau đó, do bà K. không trả nên ngày 12-11-2015, ông T., bà P. khởi kiện bà K. ra tòa nhưng sau đó rút đơn khởi kiện.

Hai bên tiến hành thỏa thuận lại nhưng không được nên ngày 10-3-2020, vợ chồng ông T., bà K. tiếp tục khởi kiện tại TAND TP Tuy Hòa.

Đến ngày 31-3-2020, bà K. trả được 200 triệu đồng, còn lại 195 triệu đồng nên ông T., bà P. yêu cầu bà K. phải trả nợ gốc còn lại và tiền lãi 10%/năm trên khoản tiền vay tính từ ngày 10-3-2015.

Tòa sơ thẩm tính ra số tiền lãi hơn 204 triệu đồng trong khi tòa phúc thẩm chỉ hơn 9 triệu đồng. Ảnh minh họa

Bà K. thừa nhận vay của vợ chồng ông T., bà P. 395 triệu đồng, đã trả được 200 triệu đồng nên vợ chồng ông T., bà P. viết giấy thỏa thuận cho bà trả số tiền còn lại trước khi định cư sang Hoa Kỳ và không tính lãi. Do đó, bà không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Xử sơ thẩm tháng tháng 8-2020, TAND TP Tuy Hòa xác định hợp đồng giữa hai bên là hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi. Bên cho vay có quyền đòi tài sản và bên vay có quyền trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý.

Tuy nhiên, năm 2015, hai bên xảy ra tranh chấp, nguyên đơn khởi kiện được TAND TP Tuy Hòa thụ lý nhưng sau đó nguyên đơn rút đơn để hai bên tự hòa giải.

Tại thời điểm này, các bên thừa nhận bản chất giao dịch là hợp đồng cho vay tính lãi, hai bên không xác định được mức lãi suất nên nay xảy ra tranh chấp cần áp dụng các Điều 468 và 688 BLDS năm 2015 tính lãi xuất 10%/năm theo yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và đúng pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn tính lãi từ ngày 10-3-2015 đến ngày nộp đơn khởi kiện 9-3-2020 là năm năm trên số tiền 395 triệu đồng, từ ngày 31-3-2020 đến nay trên số tiền 195 triệu đồng, tổng tiền lãi là hơn 204 triệu đồng. Xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Từ đó, TAND TP Tuy Hòa đã tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà K. phải trả cho vợ chồng ông T., bà P. 195 triệu đồng nợ gốc và gần 204,4 triệu đồng tiền lãi.

Bà K. kháng cáo. VKSND TP Tuy Hòa kháng nghị một phần bản án sơ thẩm về tính lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, TAND tỉnh Phú Yên nhận định có đủ căn cứ xác định số tiền gốc bà K. còn nợ là 195 triệu đồng. Do đó, bản án sơ thẩm buộc bà K. trả cho vợ chồng ông T., bà P. 195 triệu đồng tiền gốc là có căn cứ.

Theo giấy mượn tiền ngày 10-3-2015, hai bên không thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả nợ. Việc tính lãi suất như kháng nghị của VKS là có căn cứ, thời gian được tính từ ngày 10-3-2020 đến ngày 31-3-2020 trên số tiền 395 triệu đồng, từ ngày 1-4-2020 đến ngày xét xử sơ thẩm trên khoản tiền chưa trả 195 triệu đồng là phù hợp.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2019 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì "Hợp đồng không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả nợ không đủ theo yêu cầu của bên cho vay, tòa xác định bên vay phải trả tiền lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS năm 2015". Do đó, lãi xuất được tính từ ngày 10-3-2020 đến 31-3-2020 trên số tiền 395 triệu đồng, từ ngày 1-4-2020 đến ngày 7-8-2020 trên số tiền 195 triệu đồng.

Từ đó, TAND tỉnh Phú Yên chấp nhận kháng nghị của VKSND TP Tuy Hòa và kháng cáo của bị đơn, sửa một phần bản án sơ thẩm, tuyên buộc bà K. trả cho vợ chồng ông T., bà P gần 204,3 triệu đồng trong đó tiền gốc 195 triệu đồng, lãi hỡn 9 triệu đồng.

SÔNG BA