Thứ Tư, 28 tháng 10, 2020

Người 'mẹ' gần 20 năm chăm sóc hơn 80 trẻ nhiễm HIV

Bất hạnh nhưng không cam chịu số phận

Trung tâm chữa bệnh giáo dục và lao động xã hội số 2 (xã Yên Bài, huyện Ba Vì, Hà Nội) là nơi cư trú của 68 trẻ nhiễm HIV, lúc cao điểm còn lên đến 82 trẻ. Các em đến từ nhiều tỉnh thành khác nhau, nhưng có điểm chung là nhiễm HIV và bị gia đình bỏ rơi.

Ông Phạm Đình Giang, Giám đốc trung tâm, cho biết, hầu hết các trường hợp được đưa vào đây đều là trẻ bị bỏ rơi khi còn nhỏ, thậm chí là vừa sinh. Bé thì bị bỏ ở bệnh viện, cháu bị đặt trước trụ sở công an, có cháu nằm lăn lóc ở xó đường. Lúc mới đến, thông tin về đứa trẻ chỉ vỏn vẹn gói gọn trong mẩu giấy bên người: "Bị bỏ rơi, nhiễm HIV từ mẹ". Cũng vì thế, cán bộ của trung tâm làm thay công việc của những người sinh thành các cháu, trong đó bao gồm cả việc đặt tên. Những cái tên Đức Anh, Thu Hà, Đỗ Hải, Nguyễn Thị Hoàng Mai, Lê Minh Mẫn, Nguyễn Thị Lúa, Nguyễn Văn Dơi, Nguyễn Thị Hoài hay "thằng Cò"… là một trong số cái tên được đặt cho các em.

Theo ông Giang, từ khi trung tâm bắt đầu nhận nuôi trẻ đến nay đã được gần 20 năm, hiện nhiều cháu đã trưởng thành. Đặc biệt, năm 2019 có 2 cháu đỗ đại học, một cháu đã đi làm cho công ty nước ngoài với mức lương khá cao. "Khoảng chục năm trước, chẳng ai nghĩ các cháu có thể sống được, chứ nói gì đến học đại học hay đi làm tự kiếm tiền. Chỉ có những người như chúng tôi ngày đêm ăn ngủ cùng các cháu, thì mới hiểu và chia sẻ với các cháu", ông Giang chia sẻ.

Ông Giang bảo, để có được những kết quả như ngày nay là nhờ sự nỗ lực của hàng trăm cán bộ, nhân viên của trung tâm. Nhưng sát sao nhất và tiếp xúc hàng ngày với các bé là các điều dưỡng của trung tâm. Trong số đó, điều dưỡng Nguyễn Thị Thanh Lịch (vừa nghỉ hưu) người có gần 20 năm cống hiến với công tác chăm sóc sức khỏe cho trẻ nhiễm HIV.

Điều dưỡng Nguyễn Thị Thanh Lịch chăm sóc cho các bé (ảnh: TL)

Khi nhắc đến các bé nhiễm HIV tại trung tâm, điều dưỡng Lịch rưng rưng nước mắt. Bà bảo, đã cả đời gắn bó với các em. Từng trẻ được đưa vào trung tâm như thế nào, hoàn cảnh ra sao bà nắm như lòng bàn tay. Nói rồi, bà điểm danh: Bé Anh Thư được bảo vệ phát hiện bé bị bỏ rơi tại cổng trung tâm. Sau khi nhận được thông tin, tôi đưa bé vào và thực hiện test nhanh. Kết quả cho thấy, bé nhiễm HIV. Sau đó, trung tâm đưa bé đến BV làm các xét nghiệm, đồng thời làm thủ tục đón bé vào trung tâm. Hiện tại, cả trung tâm chẳng ai biết quê quán bé ở đâu, tên là gì. Cái tên Anh Thư cũng là trung tâm đặt cho", điều dưỡng Lịch nhớ lại.

Bé Anh Thư là thế, nhưng bé C.P.A. là người trầm tính hơn cả. Theo hồ sơ lưu ở trung tâm: "C.P.A: quê quán không rõ, thân nhân không rõ. Bé được đưa đến trung tâm vào một ngày giá rét cuối năm 2006". Ngay cả năm sinh và cái tên cũng là do cô bé nói ra. Bản thân P.A. luôn trốn tránh kể về quá khứ, dù các mẹ nhiều lần dò hỏi. "Lúc mới vào trung tâm, không ai ngờ P.A. còn sống đến ngày nay. Cơ thể của em khi ấy thật khủng khiếp vì bị nấm ăn trắng hết, nhiều chỗ hoại tử bốc mùi hôi thối, dưới cổ có vết lở loét to bằng trôn bát. Năm ấy em 7 tuổi, cân nặng 11kg, cơ thể em chỉ còn da bọc xương. Những vết hoại tử trên thân thể còm cõi của em càng lúc càng trầm trọng. Tôi và các mẹ ở trung tâm phải làm đủ mọi cách để chạy chữa, như: đẽo cây xà cừ, hái lá chè tươi hay lấy lá trầu không nấu nước cho P.A. tắm và em đã sống một cách kỳ diệu", bà Lịch nhớ lại.

Miệt mài chăm sóc, nuôi các em, điều dưỡng Lịch cũng như các các cán bộ trung tâm mong muốn các bé phát triển khỏe mạnh, chăm ngoan, học tốt, trở thành những công dân có ích. Và những mong mỏi ấy đã được đền đáp bắt đầu từ năm 2015 với sự kiện em Nguyễn Thị Thu Thủy trúng tuyển vào làm thiết kế đồ họa tại một công ty chuyên về bất động sản ở Hà Nội năm 2015. Hiện tại, em đang làm về đồ họa cho một công ty của Đan Mạch có văn phòng tại Việt Nam. Bà Lịch cho biết, Thủy quê ở huyện Gia Lộc (Hải Dương). Trước khi vào trung tâm, Thủy ở với mẹ. Năm Thủy 6 tuổi thì bố mất vì HIV. Mẹ con Thủy cũng được xét nghiệm và cho kết quả dương tính với HIV. Khi Thủy 8 tuổi thì mẹ mất. Thủy ở với bác 1 tháng thì được đưa vào trung tâm vì bác "sợ lây". Từ đó, Thủy được các "mẹ" ở trung tâm chăm sóc và đi học.

Năm 2014, Thủy học hết lớp 9 rồi nghỉ. Năm 2015, một tổ chức nước ngoài đã tài trợ cho em tham gia khóa học thiết kế đồ họa tại Mễ Trì (Hà Nội) kéo dài gần 4 tháng. Thời điểm đó, một công ty chuyên về bất động sản cần tuyển nhân viên đồ họa. Thủy nộp hồ sơ và thi tuyển như những người khác. Nhờ sự nỗ lực của bản thân, em đã trúng tuyển. Công việc của Thủy là chỉnh sửa đồ họa photoshop các bản thiết kế của công ty. Trong tháng đầu tiên, thủy được trả lương 2 triệu đồng, sau đó tăng trong những tháng tiếp theo. "Khi hay tin em được đi làm như những người bình thường. Tôi xúc động lắm. Cả đêm ấy, tôi không ngủ được. Tôi chỉ mong sẽ có nhiều em bị nhiễm HIV tại trung tâm có được kết quả như Thủy. Đó cũng là phần thưởng lớn đối với những cán bộ đang làm việc tại trung tâm như tôi".

Noi gương Thủy, các em trong trung tâm nỗ lực học tập để không phụ lòng trông mong của các "mẹ" trong trung tâm. Thậm chí, các em còn tiến bộ hơn, thể hiện rõ nhất là 2 em đậu đại học. Nói về 2 trường hợp này, bà Lịch bảo: Trường hợp đầu tiên là Đình Đức, quê Hải Dương, mẹ ở trong miền nam. Đức đậu đại học năm 2019, chuyên ngành môi trường. Trường hợp nữa nữa là Triệu Thanh Tú, quê ở Lạng Sơn. Đức cũng đậu đại học chuyên về kinh tế năm 2019. Tuy nhiên, sau đó e xin bảo lưu vì lý do cá nhân. "Khi nhận các em về nuôi, chúng tôi nghĩ rằng, các em sống được đã là một kỳ tích. Nhưng giờ các em còn đậu đại học, đi làm để tự nuôi mình thì chúng tôi còn vui hơn nữa", bà chia sẻ.

Đối mặt với hiểm nguy

Trước khi vào trung tâm, điều dưỡng Lịch làm y tá tại một BV thuộc Bộ NN&PTNT. Năm 2001, trung tâm cần tuyển nhân viên y tế để chuẩn bị đón nhận các bé nhiễm HIV về chăm sóc. Sau khi tìm hiểu, bà quyết định nộp hồ sơ vào vầ trúng tuyển. Công việc hàng ngày của bà là chăm sóc, kiểm tra sức khỏe của những người nhiễm HIV.

"Tôi đã từng chứng kiến cảnh một cặp vợ chồng lần lượt qua đời vì nhiễm HIV, còn đứa trẻ không ai nhận nuôi. Tôi cũng là người mẹ, nên nghĩ đến cảnh đó lại trào nước và quyết định làm một việc gì đó để giúp đỡ các em. Tôi thấy công việc này vừa hợp chuyên môn, lại có thể thực hiện được nguyện vọng của mình nên nộp hồ sơ", bà chia sẻ.

Mỗi ngày, các bé phải thức dậy vào lúc 5h30 sáng thì bà phải dậy từ lúc 5h để chuẩn bị. Các em vệ sinh, tập thể dục và ăn sáng trước 6h15. Bà xách chiếc làn có những "bơ" thuốc ARV đã được chia theo tên từng bé mang tới các nhà, phát cho các em uống. Chiều 6h15 lại một lần như thế nữa. Mỗi lần phát thuốc, chị yêu cầu các em xếp thành hàng, uống ngay trước mặt và há miệng để chắc chắn viên thuốc đã được nuốt.

Theo các chuyên gia, trẻ nhiễm HIV có cơ địa nhạy cảm với mọi mầm bệnh. Vì vậy, hầu như cháu nào cũng phải vào viện điều trị. Nhiều nhất là các bệnh viêm phế quản, viêm phổi, sẩn ngứa bội nhiễm, zona thần kinh. Vì thế, bà đưa các bé đến BV đa khoa khu vực Sơn Tây (Hà Nội) và BV Nhi TƯ để điều trị đến nỗi các y bác sĩ tại đây "nhẵn mặt". Bảo bảo: Thời gian tôi gần các bé còn nhiều hơn cả dành cho con của mình. Mỗi lúc các bé ốm, cả tuần tôi không về nhà, cứ thế thay phiên với các bảo mẫu khác chăm sóc.

Đối vơi các bệnh truyền nhiễm, người tiếp xúc với đối tượng mắc bệnh có khả năng lây nhiễm cũng cao. HIV cũng vậy. Nhân viên chăm sóc người nhiễm HIV cũng có nguy cơ phơi nhiễm rất cao. Bởi chỉ cần không cẩn thận lúc tiêm, truyền lấy ven hay tay bị xước, găng tay bị thủng là có thể nhận "án tử". Bản thân bà đã có lần "thót tim", phải uống thuốc điều trị chống phơi nhiễm sau khi tiêm cho người bị nhiễm HIV. Đó là thời điểm năm 2006, sau khi tiêm, bà cho kim tiêm vào máy cắt để xử lý. Bất ngờ, mũi kim tiêm bật ngược trở lại đâm vào sống mũi bà. Ngay lập tức, bà rửa vết thương và thực hiện theo quy trình chống phơi nhiễm.

"Lúc đó, tôi lo lắm. Cả đêm không ngủ được. Thậm chí, trong cả cơn mơ, tôi cũng nghĩ mình đã mang án tử. Tôi bắt đầu lo lắng cho tương lai của con và gia đình hai bên nếu tình huống xấu nhất xảy ra. Chỉ trong 1 tháng, tôi sụt 7kg. Nhưng điều khiến tôi đau đớn hơn chính là sự kỳ thị của những người thân. Họ lảng tránh, không dám ngồi cạnh tôi. Tất cả đồ vật cá nhân như cốc uống nước, khăn mặt, bàn chải của tôi đều có thể khiến họ sợ. Sau 6 tháng, khi xét nghiệm cho kết quả âm tính với HIV, cuộc sống của tôi mới bình thường trở lại", bà chia sẻ.

Hiện điều dưỡng Nguyễn Thị Thanh Lịch đã nghỉ hưu nhưng vẫn nhớ như in trngf trường hợp được nuôi dưỡng tại trung tâm (ảnh: Linh Trần)

Trong quãng thời gian làm việc, chăm sóc trẻ nhiễm HIV tại trung tâm, nỗi đau lớn nhất với bà là khi chứng kiến một bé nào đó qua đời. Dù vậy, nỗi đau còn lớn hơn, khi ngay cả chỗ chôn cho các em cũng bị phân biệt. Năm 2002, lãnh đạo trung tâm đã xin phép chính quyền địa phương để chôn cất các cháu bé nhiễm HIV tại nghĩa trang Việt Mông (xã Yên Bài). Mới đầu, người dân địa phương phản đối việc chôn cất những hài nhi mang mầm bệnh HIV/AIDS, vì họ không muốn để các cháu "ở chung", với người thân của mình. Bà cùng với cán bộ trung tâm và quản trang phải mất rất nhiều thời gian vận động chính quyền địa phương và người dân. Bà bảo bảo: "Nghĩa tử là nghĩa tận. Số phận các cháu đã bạc bẽo, không được sống như người bình thường. Giờ, các cháu đã tắt hơi rồi, phải được an táng cho tử tế". Dần dần, vì thương xót cho những sinh linh phận mỏng, vừa chào đời đã chịu nhiều nỗi đau, người dân dần chấp nhận.

Nỗi lòng người "mẹ"

Nhớ lại thời gian đầu khi vào trung tâm, bà cũng không nghĩ được mình có thể trụ lại lâu như thế. Cũng bởi, thời điểm ấy, căn bệnh HIV còn kinh khủng lắm, chỉ cần nghe nói ai cũng hãi. Vì vậy, khi biết bà nộp hồ sơ vào trung tâm, người nhà đã rất mực ngăn cản. "Chồng tôi bảo, sao không tìm chỗ khác làm. Vào đấy nhỡ lây bệnh thì sao". Anh em cũng chêm vào: Ở Hà Nội hết việc rồi hay sao mà vào làm chỗ ấy, kinh lắm".

Bị người thân nói ra, nói vào nhiều, bà cũng nản và có lúc nghĩ tới nghỉ việc. Nhưng rồi, vì tình yêu với các em, bà quyết tâm vượt qua. Ban đầu, bà nói với chồng, bệnh ấy cũng không quá đáng sợ như mọi người nghĩ. Mình có kiến thức thì sẽ biết cách phòng tránh. Thấy bà quyết tâm, chồng rồi người thân lần lượt ủng hộ.

Với người thân, họ chưa hiểu hết về căn bệnh này nên sợ, bà không trách. Thế nhưng, chính những đồng nghiệp là y bác sĩ, cũng kỳ thị khiến bà thấy buồn. "Khi tôi ra một BV ở Hà Nội để chữa bệnh cho các bé. Trong lúc chờ đợi, tôi ngồi ở ghế đá với một đồng nghiệp và bắt chuyện. Chúng tôi nói chuyện rất vui vẻ. Khi biết tôi chăm sóc cho trẻ nhiễm HIV ở trung tâm, họ ngồi cách xa tôi hơn, hỏi chuyện cũng không trả lời nữa. Thậm chí, trước khi đứng dậy còn phủi quần áo như sợ virus bám vào người. Tôi hiểu, họ sợ tôi lây bệnh cho họ. Lúc đó, tôi mới cảm nhận rõ sự ruồng rẫy của xã hội với bệnh nhân HIV như thế nào", bà nhớ lại.

Làm công việc gặp nhiều khó khăn và ẩn chứa nhiều nguy cơ bị lây nhiễm HIV, nhưng bà chưa bao giờ có ý định bỏ nghề, dù nhiều bạn bè, người thân khuyên can. Chính chị lại trở thành người truyền thông cho các thành viên trong gia đình không kỳ thị với người nhiễm HIV. Bà bảo, chính sự kỳ thị, xa lánh của cộng đồng đối với người bị nhiễm HIV làm cho công tác tư vấn gặp khó khăn trong việc giúp người nhiễm HIV hòa nhập vào cộng đồng. Bởi sự kỳ thị đã làm cho người nhiễm HIV mặc cảm trong cuộc sống, khi xung quanh không còn ai muốn tiếp xúc với họ đã làm cho người nhiễm HIV có cảm giác cuộc sống không còn có ý nghĩa, không còn có giá trị.

Bây giờ, dù đã nghỉ hưu nhưng hàng tuần bà vẫn dành thời gian lên thăm các cháu. Bà bảo, mỗi lần nhìn thấy chúng, tôi như thấy tại tuổi thanh xuân của mình. Bà mong nhà nước, các tổ chức xã hội, cá nhân hãy tiếp sức để các cháu nhiễm HIV được như những trẻ bình thường khác.

Linh Trần